Giữa cái nắng gay gắt đỉnh điểm mùa khô, chúng tôi tìm về làng Triêl (xã Ia Pnôn, Gia Lai), nơi có gần 90 hộ dân người Jrai gốc Campuchia sinh sống. Nhìn những ngôi nhà kiên cố, vườn rẫy xanh tốt hôm nay, ít ai biết rằng phía sau đó là cả một hành trình đầy máu và nước mắt của những người dân nơi đây.
Bí thư Ksor Bíu (bên trái) chia sẻ về cuộc chạy loạn của hàng nghìn người dân Campuchia thời điểm 1975
Tiếp chúng tôi là anh Ksor Bíu (SN 1986, Bí thư kiêm thôn trưởng làng Triêl) - thế hệ thứ hai người Campuchia sinh sống tại Việt Nam. Sau khi rót trà mời khách, anh bắt đầu câu chuyện về cuộc chạy loạn sinh tử của hàng nghìn người dân Campuchia trước họa diệt chủng.
Anh Bíu cho biết, cha anh kể lại, khoảng năm 1975, khi Pol Pot tàn sát người dân vô tội, để bảo toàn tính mạng, nhiều gia đình buộc phải rời bỏ quê hương, tìm nơi lánh nạn.
“Khi ấy, mọi người không kịp mang theo gì nhiều, chỉ gom được ít quần áo và tư trang cá nhân. Người lớn dắt díu trẻ nhỏ, gồng gánh băng rừng, vượt suối, chạy thật xa mong tìm được nơi an toàn”, anh kể.
Theo anh Bíu, hành trình ấy kéo dài trong đói khát và hiểm nguy. Có người kiệt sức giữa đường, có gia đình bị ly tán, thất lạc người thân. Khi đặt chân đến đất Việt, họ gần như không còn lại gì ngoài mạng sống.
Nhờ chịu khó và mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, năm 2012, ông Rơ Châm Nek đã xây được ngôi nhà kiên cố
Sau khi phát hiện, chính quyền địa phương đã đón họ về, bố trí ở tại làng Triêl ngày nay. Ban đầu, cuộc sống vô cùng khó khăn. Không đất đai, vốn liếng, họ phải tự khai hoang, phát rẫy, xin giống trồng mì, trồng lúa. Nhờ sự giúp đỡ của chính quyền, bộ đội biên phòng và người dân địa phương, cuộc sống của những người tha hương dần ổn định.
Sau này, khi trở về thăm lại bản quán, họ hàng mong muốn gia đình anh Bíu hồi hương nhưng anh đã từ chối: “Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, bố tôi đã yên nghỉ trên mảnh đất này nên tôi không có ý định rời đi”, anh Bíu khẳng định.
Làm giàu trên vùng đất mới
Là người biết vươn lên từ nghèo khó, ông Rơ Châm Nek (SN 1978) chia sẻ, vợ chồng ông sinh ra và lớn lên trong thiếu thốn, làm đủ nghề để kiếm sống nhưng vẫn bữa đói, bữa no.
Không cam chịu cảnh nghèo, ngoài việc nương rẫy, vợ chồng ông xin làm công nhân cao su để giảm bớt khó khăn. Ai có việc đột xuất xin nghỉ, ông nhận cạo thay. Nghe tin có người trả lại vườn cao su, ông không ngần ngại nhận thêm để tăng thu nhập.
Nhờ đầu tư máy móc phục vụ sản xuất, ông Nek trở thành người đầu tiên trong làng áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp
“Việc cạo mủ cao su thường diễn ra từ 21h - 23h, nếu nhận thêm thì phải kéo dài đến 1h sáng hôm sau, thậm chí trắng đêm. Xong việc, tôi lại lên rẫy hoặc ra đồng làm việc mà không kịp ngủ”, ông Nek chia sẻ.
“Không chỉ mưu sinh vất vả, vợ chồng tôi từng thót tim vì suýt lạc mất con gái đầu lòng khi đi cạo mủ cao su. Từ đó, chúng tôi luôn địu con bên người, không dám rời nửa bước”, ông Nek kể, giọng vẫn run run.
Nhờ sự cần cù, chịu khó và mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, năm 2012, ông đã xây được ngôi nhà kiên cố. Hiện ông có 6 sào cà phê, 9 sào lúa, 3ha điều, cùng đàn gia súc 15 con, thu nhập mỗi năm đạt khoảng 250 triệu đồng.
Gần đây, ông Nek mạnh dạn đầu tư hơn 150 triệu đồng mua máy cày và rơ-moóc để vận chuyển nông sản. Ngoài phục vụ nương rẫy, ông nhận cày, chở thuê cho người dân. Vì thế ông Nek trở thành người đầu tiên trong làng áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp.
Cũng từng khởi đầu với hai bàn tay trắng, sau khi lập gia đình, anh Rơ Mah Thúy (SN 1982) xin làm công nhân cao su để duy trì cuộc sống, đồng thời tranh thủ thời gian phát triển kinh tế gia đình.
Ngôi nhà của anh Rơ Mah Thúy xây hết 700 triệu đồng vào năm 2022 từ số tiền dành dụm thu hoạch nông sản
Từ thửa đất hoang do bố mẹ để lại, anh Thúy huy động mọi nguồn lực để phát dọn và trồng 7ha điều, 1ha cao su, 5 sào lúa và chăn nuôi bò. Khi cây điều còn nhỏ, tận dụng khoảng đất trống, anh trồng xen cây mì, mỗi năm thu về khoảng 70 triệu đồng để “lấy ngắn nuôi dài”.
Nhận thấy cao su đem lại giá trị thấp, năm 2019, anh mạnh dạn chuyển sang trồng cà phê. Nhờ hướng đi đúng đắn, thu nhập gia đình hiện đạt khoảng 300 triệu đồng/năm.
Từ những con người chạy loạn trong tuyệt vọng, được Đảng và Nhà nước quan tâm, những người gốc Campuchia đã an cư lạc nghiệp nơi vùng biên Gia Lai.
Ông Nguyễn Huệ, Chủ tịch UBND xã Ia Pnôn cho biết, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, đời sống kinh tế của người dân trên địa bàn xã Ia Pnôn, đặc biệt là bà con gốc Campuchia đã có nhiều chuyển biến tích cực. Từ chỗ thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, bà con đã chủ động khai hoang, chuyển đổi cây trồng, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống.
Ngôi nhà của gia đình chị Kpuih H’Yem vừa xây, trị giá khoảng 1 tỷ đồng
“Nhiều hộ đã vươn lên làm giàu, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời giữ vững an ninh, trật tự khu vực biên giới”, Chủ tịch UBND xã Ia Pnôn khẳng định.
Ảnh: Trần Hoàn
Link nội dung: https://www.phunuvathoidaivn.com/chay-loan-sang-viet-nam-nam-1975-nhieu-nguoi-campuchia-nay-co-nha-tien-ty-a177351.html