Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với hiện tượng tỷ lệ sinh toàn cầu giảm mạnh. Điều đáng chú ý là sự sụt giảm này không chỉ xuất hiện ở những nền kinh tế phát triển có chi phí sinh hoạt đắt đỏ, mà còn đang diễn ra tại nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Dân số, Bộ Y tế, năm 2025, trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam sinh 1,93 con, tăng nhẹ so với mức thấp nhất trong lịch sử (năm 2024) là 1,91 nhưng vẫn chưa đạt mức sinh thay thế (2,1 con). Chênh lệch về mức sinh giữa các vùng miền tiếp tục có khoảng cách rộng, như TP.HCM nằm trong nhóm thấp nhất cả nước với 1,51 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, trong khi Điện Biên dẫn đầu cả nước với 2,91 con/phụ nữ.
Sự sụt giảm tỉ lệ sinh đang trở thành thách thức toàn cầu khi ngày càng nhiều quốc gia chứng kiến số ca sinh giảm sâu. Tuy nhiên, kết quả tổng hợp khảo sát của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) lại cho thấy cuộc khủng hoảng hiện nay không phải là việc người trẻ không muốn có con. Trái lại, nhiều người đang không thể có được số con mà họ thực sự mong muốn do những rào cản về kinh tế, sức khỏe và xã hội.
Khi chi phí đè nặng lên mong muốn làm cha mẹ
Trong Báo cáo Tình hình Dân số thế giới năm 2025 của UNFPA, 39% số người được hỏi cho biết các yếu tố tài chính như nhà ở giá rẻ, lựa chọn chăm sóc trẻ em hạn chế và sự bấp bênh về an ninh việc làm là những rào cản lớn nhất kìm hãm hoặc sẽ hạn chế khả năng phát triển quy mô gia đình của họ.
Vào năm 2025, tỷ suất sinh của Hàn Quốc đã ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong hai thập niên với con số 0,80 (tương ứng với 254.500 trẻ chào đời). Kết quả này là thành quả của nỗ lực chính sách hỗ trợ kinh tế mà chính phủ đã thực hiện trong một khoảng thời gian dài. Theo Bloomberg, từ năm 2006 đến 2023, chính phủ Hàn Quốc đã chi khoảng 380 nghìn tỉ won (280 tỉ USD) cho các chương trình khuyến sinh và hỗ trợ gia đình. Riêng năm 2025, ngân sách cho lĩnh vực này tăng thêm 13% so với năm trước.
Về hỗ trợ tài chính trực tiếp, cha mẹ có con mới sinh được nhận 1 triệu won (khoảng 700 USD) mỗi tháng trong năm đầu, sau đó 500.000 won mỗi tháng trong năm thứ hai - cùng các khoản trợ cấp một lần, voucher chăm sóc trẻ em và ưu đãi thuế.
Trường hợp của Hàn Quốc cho thấy quyết định sinh con gắn chặt với điều kiện kinh tế và mức độ an tâm về tương lai. Khi chi phí nhà ở, giáo dục và chăm sóc trẻ em trở thành gánh nặng quá lớn, nhiều cặp đôi có xu hướng trì hoãn kết hôn, sinh ít con hơn hoặc thậm chí từ bỏ kế hoạch làm cha mẹ. Ngược lại, khi các chính sách hỗ trợ tài chính giúp giảm bớt áp lực chi tiêu và tạo cảm giác ổn định lâu dài, khả năng hiện thực hóa mong muốn có con cũng được cải thiện đáng kể.
Tâm lý e dè trước một tương lai bất định
Bên cạnh áp lực từ chiếc ví, thế hệ trẻ đang phải gánh chịu một thứ áp lực vô hình khác mang tính vĩ mô hơn. Một phần năm số người tham gia khảo sát của UNFPA thừa nhận nỗi sợ hãi về các vấn đề toàn cầu bao gồm biến đổi khí hậu, chiến tranh và các dịch bệnh đang làm thay đổi hoàn toàn kế hoạch sinh con của họ. Các nhà tâm lý học gọi hiện tượng này là "eco-anxiety" (lo âu khí hậu), thuật ngữ dùng để mô tả cảm giác bất an kéo dài trước các nguy cơ môi trường trong tương lai. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) cho rằng eco-anxiety đang trở thành một trong những dạng lo âu phổ biến nhất ở thế hệ trẻ.
Kết quả nghiên cứu toàn cầu công bố trên tạp chí y khoa The Lancet Planetary Health chỉ ra có đến 39% người trẻ trên toàn cầu cảm thấy do dự, ngần ngại hoặc quyết định không sinh con vì lo sợ các thảm họa thiên tai và sự khắc nghiệt của biến đổi khí hậu trong tương lai. Ngoài ra, 45% số người được hỏi cho biết họ có nỗi lo sợ về môi trường đang ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống và các quyết định đại sự hàng ngày. Trong khi đó, tại Mỹ, theo khảo sát của tổ chức Pew Research, có đến 28% người được phỏng vấn cho rằng họ không muốn sinh con do lo ngại về tình hình bất ổn của thế giới.
Có thể thấy, nhiều người trẻ trên thế giới không muốn sinh con vì lo ngại đứa trẻ sinh ra sẽ phải đối mặt với một tương lai khắc nghiệt do biến đổi khí hậu, thiên tai triền miên và tài nguyên cạn kiệt.
Nghiên cứu trên dữ liệu của 126 quốc gia do Viện Nghiên cứu Kinh tế CESifo (Đức) thực hiện từ năm 2021 đã kết luận rằng mức độ bất định kinh tế càng cao thì tỷ lệ sinh càng có xu hướng giảm, khi các gia đình lựa chọn trì hoãn những quyết định dài hạn để giảm thiểu rủi ro tài chính. Trong bối cảnh hiện nay, khi kinh tế thế giới vẫn phải đối mặt với nhiều biến động từ lạm phát, căng thẳng địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng cho đến những bất ổn trong thương mại quốc tế, cảm giác thiếu chắc chắn về tương lai tiếp tục bao trùm lên các quyết định quan trọng của nhiều gia đình trẻ.
Nỗi đau mang tên Vô sinh - Hiếm muộn
Không chỉ dừng lại ở những rào cản chủ quan về tâm lý hay kinh tế, một bộ phận lớn người trẻ đang phải đối mặt với rào cản khách quan mang tính sinh học. Cứ 1 trên 4 người tham gia cuộc khảo sát của UNFPA cho biết các vấn đề sức khỏe hiện tại đang trực tiếp kìm hãm mong muốn có con của họ.
Theo báo cáo cuối năm 2023 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 17,5% người trưởng thành trên toàn cầu, tức cứ 1 trong 6 người từng trải qua tình trạng vô sinh trong cuộc đời. Đáng chú ý, tỷ lệ này gần như không có sự khác biệt giữa các quốc gia có thu nhập cao và các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình.
Tại Việt Nam, bức tranh cũng không kém phần đáng lo ngại. Nghiên cứu quy mô toàn quốc trên 14.300 cặp vợ chồng do Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội thực hiện ghi nhận 7,7% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản gặp tình trạng vô sinh, tương đương hàng trăm nghìn cặp đôi trên cả nước.
Sự lao dốc của tỷ lệ sinh toàn cầu không đơn thuần là câu chuyện của sự "ích kỷ" hay lười biếng. Đó là một phản ứng xã hội tự nhiên trước những áp lực của thời đại mới đè nặng lên cả tâm lý, ví tiền lẫn thể trạng của thế hệ trẻ. Không phải là tình trạng dân số quá đông hay quá ít, mà chính việc các cá nhân không thể đạt được mục tiêu sinh sản mong muốn mới là cuộc khủng hoảng sinh sản thực sự./
Link nội dung: https://www.phunuvathoidaivn.com/lao-doc-ty-le-sinh-toan-cau-dung-chi-do-loi-cho-su-ich-ky-cua-nguoi-tre-a194290.html