Bước ra từ bóng tối chiến tranh
Chúng tôi đến thăm nhà thương binh Nguyễn Đăng Khoa (sinh năm 1946), trú tại xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An vào một ngày tháng Bảy - tháng của lòng tri ân và những ký ức hào hùng về một thời hoa lửa. Trong ngôi nhà nhỏ ngập tràn gió đồng quê, người cựu chiến binh với mái tóc bạc trắng đón chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu, ánh mắt vẫn ánh lên sự điềm đạm của một người đã đi qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Lật giở những trang ký ức, ông Nguyễn Đăng Khoa kể rằng, năm 1964, khi đang là học sinh năm cuối Trường cấp III Nam Đàn, ông là một học sinh nổi bật với niềm yêu thích môn Toán và luôn ấp ủ ước mơ trở thành thầy giáo. Thế nhưng, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn cam go, tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã thôi thúc chàng thanh niên xứ Nghệ gác lại những hoài bão riêng. Ông xếp lại sách bút, khoác ba lô lên đường nhập ngũ, sẵn sàng dấn thân vì độc lập, tự do của dân tộc.
Năm 19 tuổi, Nguyễn Đăng Khoa được điều động vào Đoàn 559, lực lượng làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông, vận tải chiến lược trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Cùng đồng đội, ông kiên cường mở đường, vận chuyển quân lương, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Trên những cung đường liên tục bị bom đạn kẻ thù cày xới, người lính trẻ không chỉ phải đối mặt với cái chết luôn cận kề mà còn chống chọi với những cơn sốt rét rừng ác tính và muôn vàn thiếu thốn giữa đại ngàn Trường Sơn. Chính trong gian khổ và hiểm nguy ấy, bản lĩnh, ý chí và lòng quả cảm của người lính Cụ Hồ được tôi luyện, trở thành sức mạnh để họ hoàn thành nhiệm vụ, góp phần làm nên huyền thoại của tuyến đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hệ thống chữ nổi Braille đã trở thành người bạn đồng hành thầm lặng, mở ra một cánh cửa mới cho cuộc đời ông.
Bi kịch ập đến vào cuối năm 1968. Trong một lần làm nhiệm vụ, trận địa của đơn vị ông bị máy bay địch oanh tạc dữ dội. Bị thương đặc biệt nặng, ông Nguyễn Đăng Khoa được đồng đội khẩn trương đưa về Đội điều trị 1 cấp cứu. Khi tỉnh lại sau nhiều ngày cận kề lằn ranh sinh tử, điều đầu tiên ông cảm nhận là những cơn đau nhức cùng lớp băng gạc quấn kín toàn bộ phần đầu.
Chấn thương từ trận bom đã cướp đi thị lực của ông Nguyễn Đăng Khoa khi tuổi đời còn rất trẻ. Từ một người lính Trường Sơn dày dạn sương gió, ông buộc phải làm quen với cuộc sống trong bóng tối, học lại từ những việc giản đơn như đi lại, sinh hoạt bằng đôi tai, đôi tay và trí nhớ.
Những ngày đầu trở về địa phương, ông từng rơi vào khủng hoảng, mặc cảm, nhưng bản lĩnh người lính đã giúp ông vượt lên số phận. Ông kiên trì ghi nhớ từng không gian, vị trí đồ vật, tự lao động và sinh hoạt để không trở thành gánh nặng cho gia đình.

Trong suốt 11 năm, lớp học được duy trì thường niên suốt kỳ nghỉ hè và kết thúc khi học sinh bước vào năm học mới. Ảnh T.L.
"Nằm trên giường bệnh, tôi vẫn hy vọng một ngày được nhìn thấy ánh sáng. Nhưng khi tháo băng, trước mắt chỉ còn một quầng sáng vàng nhạt rồi lịm dần vào bóng tối. Đó cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ánh sáng", cựu chiến binh Nguyễn Đăng Khoa nhớ lại.
Giữa những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời, số phận đã đưa ông gặp bà Trần Thị Sâm, khi đó là Phó Bí thư Đoàn xã Nam Lĩnh (cũ). Được tổ chức phân công chăm sóc người thương binh trẻ trở về từ chiến trường, bà đã đồng hành cùng ông trong những ngày tháng đầy thử thách. Từ sự cảm thông, sẻ chia và thấu hiểu trước những mất mát, hy sinh của người lính, tình yêu dần nảy nở, đưa hai người nên duyên vợ chồng.
Nhắc về người bạn đời, ông Nguyễn Đăng Khoa nở nụ cười hiền hậu: "May mắn lớn nhất cuộc đời tôi là có người vợ luôn đồng hành, gánh vác và sẻ chia mọi vui buồn. Với tôi, vợ chính là đôi mắt của cuộc đời".
Câu nói mộc mạc ấy chứa đựng lòng biết ơn sâu sắc đối với người phụ nữ đã dành trọn tuổi xuân để chăm sóc, chở che và tiếp thêm nghị lực cho ông vượt qua những năm tháng đầy gian nan.
Không chấp nhận đầu hàng số phận hay sống dựa dẫm vào người khác, năm 1973, ông mạnh dạn đề nghị địa phương hỗ trợ một chiếc radio để nghe tin tức hằng ngày. Ban ngày chăm chú theo dõi thời sự, ban đêm ông miệt mài tự học chữ nổi Braille. Bằng ý chí và nghị lực phi thường, từ một thương binh khiếm thị, ông từng bước vượt lên nghịch cảnh, trở thành tuyên truyền viên tích cực, góp phần truyền tải chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân địa phương.
Theo bà Đình Thị Hiền, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Đại Huệ, dù mang thương tật đặc biệt nặng, ông Nguyễn Đăng Khoa vẫn luôn là một tuyên truyền viên tâm huyết, trách nhiệm và có nhiều đóng góp cho địa phương. Không chỉ vậy, ông còn nhiều lần đạt giải tại các cuộc thi tìm hiểu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở cấp tỉnh và Trung ương, góp phần lan tỏa sâu rộng phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác trong cộng đồng.
Mất ánh sáng, không mất niềm tin
Ý chí cống hiến cho quê hương chưa bao giờ nguôi ngoai trong người lính năm xưa. Một lần sang chơi nhà hàng xóm, thấy hai học sinh loay hoay với bài toán hình, ông tận tình hướng dẫn và đưa ra lời giải chính xác. Từ đó, tiếng lành đồn xa, ngày càng nhiều học sinh tìm đến nhờ ông phụ đạo, mở đầu hành trình lặng lẽ gieo chữ của người thương binh khiếm thị suốt nhiều năm.

Bức ảnh lưu niệm lớp học tình thương khóa 10 do Đại tá Mai Trung Tuyến trao tặng được thương binh Nguyễn Đăng Khoa gìn giữ và trân trọng đặt ở vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà..
Nhận thấy niềm hạnh phúc lớn nhất của mình là được truyền thụ tri thức, mùa hè năm 2003, ông Nguyễn Đăng Khoa quyết định mở lớp học miễn phí ngay tại nhà với 16 học sinh đầu tiên. Từ đó, cứ mỗi dịp nghỉ hè, lớp học lại đều đặn mở cửa đón các em đến ôn tập và khép lại khi năm học mới bắt đầu.
Dù không còn ánh sáng đôi mắt, lớp học của ông vẫn luôn rộn ràng vào mỗi buổi chiều. Để khắc phục những hạn chế trong quá trình giảng dạy, ông xây dựng một nhóm "trợ giảng" là những học sinh có học lực khá, hỗ trợ đọc đề, vẽ hình và ghi chép công thức. Với tư duy toán học sắc bén cùng trí nhớ đáng kinh ngạc, người thương binh khiếm thị vẫn trực tiếp phân tích đề bài, định hướng cách giải và truyền cảm hứng học tập cho các em.
Suốt hơn hai thập kỷ, 11 lớp học miễn phí của ông đã chắp cánh ước mơ cho hàng trăm học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp các em củng cố kiến thức, thêm tự tin trên con đường học tập. Trên bục giảng giản dị ấy, ông không chỉ truyền dạy tư duy Toán học mà còn kể cho học trò nghe về truyền thống quê hương, lịch sử dân tộc, bồi đắp lòng yêu nước, đạo lý làm người và ý chí vượt khó bằng chính cuộc đời mình.

Dù không còn ánh sáng của đôi mắt, ông Khoa vẫn say sưa chơi đàn bằng tất cả ngọn lửa đam mê và một tâm hồn lạc quan phơi phới.
Hiện nay, do tuổi cao, sức khỏe giảm sút, lớp học miễn phí của ông Nguyễn Đăng Khoa không còn duy trì. Thế nhưng, mỗi dịp Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11) hay các ngày lễ, nhiều thế hệ học trò vẫn trở về thăm người thầy khiếm thị đáng kính, bày tỏ lòng biết ơn đối với người đã chắp cánh tri thức và hun đúc nghị lực cho các em.
Chị Nguyễn Thu Trang (sinh năm 1999, xã Đại Huệ), một học trò cũ của lớp học, xúc động chia sẻ rằng dù không thể nhìn thấy bảng hay sách vở, thầy Khoa vẫn sở hữu trí nhớ phi thường và tư duy Toán học sắc bén. Không chỉ truyền dạy kiến thức, thầy còn gieo vào học trò tình yêu quê hương, lòng biết ơn lịch sử và những bài học về nhân cách, ý chí vượt khó. "Mỗi khi có dịp, chúng tôi đều trở về thăm thầy để tri ân người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho hành trang tri thức và cuộc sống của mình", chị Trang nói.
Không chỉ là người thầy tận tụy, ông Nguyễn Đăng Khoa còn được người dân địa phương yêu mến gọi là "nghệ sĩ làng quê". Không thể lao động nặng, ông tìm đến âm nhạc như một cách tiếp tục cống hiến. Tự học chơi đàn mandolin, kèn harmonica và nhiều nhạc cụ khác, hơn 30 năm qua, ông vẫn say mê biểu diễn phục vụ các hoạt động văn hóa ở địa phương. Hình ảnh người thương binh khiếm thị vừa chơi đàn, thổi harmonica, vừa điều khiển bộ gõ bằng chân đã trở thành dấu ấn đẹp trong lòng người dân quê hương.
Theo ông Văn Liêm, hàng xóm của ông Khoa, người dân trong vùng luôn khâm phục nghị lực, tài năng và tấm lòng của người cựu chiến binh. Không chỉ tận tâm dạy học, ông còn tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lan tỏa tinh thần lạc quan và ý chí vươn lên. Với bà con địa phương, ông Nguyễn Đăng Khoa là tấm gương sáng về nghị lực sống, lòng nhân ái và tinh thần cống hiến không ngừng nghỉ.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Lê Văn Thành - Chủ tịch Uỷ ban MTTQ xã Đại Huệ cho biết: "Ông Nguyễn Đăng Khoa là thương binh hạng nặng 1/4. Cựu binh này là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần tàn nhưng không phế'. Việc ông duy trì các lớp học tình thương cho học sinh nghèo và tích cực tham gia cống hiến cho Liên hoan Tiếng hát Làng Sen là những hành động cao đẹp, truyền đi nguồn cảm hứng mạnh mẽ về khát vọng sống và trách nhiệm xã hội".
Link nội dung: https://www.phunuvathoidaivn.com/do-cung-la-lan-cuoi-cung-toi-nhin-thay-anh-sang-a194894.html