
Đoàn đánh giá ngoài Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - ĐH Quốc gia TP.HCM - kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục tại Trường ĐH Công nghệ TP.HCM tháng 8-2023 - Ảnh tư liệu: TUẤN MINH
Mỗi mùa kiểm định, ở không ít trường đại học, giảng viên lại bước vào cuộc truy tìm minh chứng. Đề cương cũ, biên bản họp, phiếu khảo sát, bài thi được gom lại, đặt tên và xếp vào những thư mục ngay ngắn. Nhiều người thức khuya không phải để sửa bài giảng hay đọc một công trình mới, mà để chứng minh một công việc đã được thực hiện đúng quy trình.
Kiểm định vốn để thúc đẩy chất lượng nhưng khi áp đồng loạt cho quá nhiều chương trình, phương tiện dễ trở thành mục tiêu. Trường bận chuẩn bị ngày đoàn đánh giá đến hơn là cải thiện những gì diễn ra hằng ngày trong lớp. Một bộ hồ sơ đẹp có thể cho thấy hệ thống trơn tru trên giấy, nhưng không trả lời được sinh viên đã học gì và tấm bằng giúp họ làm việc ra sao.
Vì vậy, dự thảo sửa đổi Thông tư 04/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo không bắt buộc kiểm định đồng loạt toàn bộ chương trình và không áp một tỉ lệ chung, là thay đổi đáng ủng hộ. Các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật vẫn kiểm định định kỳ; lĩnh vực khác được lựa chọn theo mức độ ưu tiên, cơ chế đào tạo, dấu hiệu vi phạm và nhu cầu kiểm chứng bên ngoài.
Nhưng bỏ kiểm định đồng loạt không đồng nghĩa nới lỏng chất lượng. Nếu trước đây mọi chương trình cùng qua một chiếc cổng, mô hình mới đòi hỏi cơ quan quản lý biết nơi nào cần kiểm tra thường xuyên, nơi nào có thể giám sát bằng dữ liệu và khi nào phải can thiệp. Quản lý theo rủi ro khó hơn áp một tỉ lệ cứng, bởi nó cần năng lực phân tích và minh bạch cao hơn.
Không phải chiến dịch làm hồ sơ theo mùa
Úc là tham chiếu đáng chú ý. Cơ quan Chất lượng và Tiêu chuẩn giáo dục đại học Úc (TEQSA) phân tích dữ liệu để đánh giá rủi ro, đăng ký cơ sở đào tạo, kiểm định khóa học với đơn vị không có quyền tự kiểm định và giám sát chuẩn ngưỡng. Tập trung nguồn lực vào nơi rủi ro cao không miễn trách nhiệm cho nơi rủi ro thấp: mọi cơ sở vẫn phải đáp ứng chuẩn ở mọi thời điểm.
Tại Anh, Văn phòng sinh viên cũng xem xét khả năng xảy ra vi phạm và mức tác động đến người học để tập trung giám sát. Mỹ có kiểm định cơ sở và kiểm định chương trình, thường dành cho những lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. Các mô hình khác nhau nhưng cùng đặt kiểm định trong một hệ sinh thái trách nhiệm, không phải chiến dịch làm hồ sơ theo mùa.
Việt Nam cần ba tầng bảo đảm chất lượng. Tầng nền là trách nhiệm thường xuyên của mọi chương trình: tự đánh giá, công khai dữ liệu, tiếp nhận phản hồi và chứng minh cải tiến. Tầng hai là kiểm định định kỳ với ngành có rủi ro xã hội cao hoặc sử dụng nguồn lực công lớn. Tầng ba là kiểm tra được kích hoạt khi có bất thường: tuyển sinh tăng quá nhanh, bỏ học cao, thiếu giảng viên, khiếu nại kéo dài hoặc đầu ra suy giảm.
Mấu chốt là chất lượng dữ liệu. Nếu thông tin do trường cung cấp không được chuẩn hóa và kiểm tra chéo, quản lý theo rủi ro có thể thành cơ chế "ai báo cáo đẹp thì ít bị kiểm tra". Trường trung thực sẽ bất lợi, còn nơi che giấu vấn đề lại được xem là an toàn. Ta bỏ núi hồ sơ giấy nhưng dựng lên núi bảng biểu điện tử không đáng tin hơn.
Chỉ số theo dõi không nên dừng ở số môn học, số tiến sĩ hay tỉ lệ tốt nghiệp. Cần nhìn vào mức tiến bộ, hoàn thành đúng hạn, năng lực nghề nghiệp, việc làm phù hợp, phản hồi nhà tuyển dụng, khiếu nại được giải quyết, điều kiện thực hành và tải giảng dạy. Một con số riêng lẻ dễ làm đẹp; chuỗi dữ liệu nhiều năm, đối chiếu từ nhiều nguồn, khó che giấu vấn đề hơn.
Phép thử quan trọng nhất nằm ở lớp học
Từ vị trí một giảng viên, tôi cho rằng phép thử quan trọng nhất nằm ở lớp học. Chương trình có cập nhật kịp biến đổi nghề nghiệp không? Sinh viên có được phản biện, thực hành và sai trong môi trường an toàn không? Cách đánh giá đo năng lực hay chỉ thưởng cho trí nhớ? Chương trình đạt chuẩn mà người học vẫn thụ động thì chuẩn ấy chưa chạm phần cốt lõi.
Tự chủ phải đi cùng tự chịu trách nhiệm. Khi trường được chọn chương trình kiểm định, hội đồng trường và ban giám hiệu phải giải thích vì sao ngành này được chọn, ngành kia chưa; tiêu chí rủi ro nào đã dùng; bằng chứng nào cho thấy chương trình chưa kiểm định vẫn bảo đảm chất lượng. Quyền lựa chọn chỉ chính đáng khi người học có quyền biết và xã hội có thể kiểm chứng.
Một giấy chứng nhận "đạt chuẩn" không đủ cho quyết định bỏ ra bốn năm tuổi trẻ cùng khoản học phí lớn. Sinh viên cần biết chương trình được kiểm định theo tiêu chuẩn nào, còn hiệu lực đến bao giờ, có khuyến nghị gì, tỉ lệ tốt nghiệp và việc làm ra sao, điểm yếu nào đang được khắc phục. Minh bạch không phải đăng tệp PDF hàng trăm trang ở góc khuất website.
Các tổ chức kiểm định cũng phải được đánh giá bằng chất lượng phán đoán, không phải số chứng nhận đã cấp. Nếu tỉ lệ đạt gần như tuyệt đối, xã hội có quyền hỏi kiểm định đã phân hóa được chất lượng chưa. Cần công khai xung đột lợi ích, chuẩn hóa đánh giá viên, kiểm tra chéo kết quả và ngăn việc tư vấn hồ sơ rồi quay lại đánh giá chính hồ sơ ấy.
Kiểm định tốt không nên khiến giảng viên sợ thêm việc; nó phải giúp họ dạy tốt hơn. Thay vì khôi phục hàng chục loại biên bản, trường có thể dùng dữ liệu từ hệ thống học tập, mẫu bài làm, kết quả theo chuẩn đầu ra và phản hồi môn học. Thời gian tiết kiệm cần trả lại cho nghiên cứu, thiết kế bài giảng, cố vấn và hỗ trợ sinh viên tụt lại.
Sinh viên cũng không thể chỉ là người điền khảo sát. Họ cần được tham gia đối thoại về chương trình và biết nhà trường đã làm gì với phản hồi. Khi một góp ý lặp lại qua nhiều khóa mà không tạo thay đổi, đó là tín hiệu chất lượng đáng quan tâm hơn những bức ảnh hoạt động đẹp trong báo cáo.
Tôi ủng hộ bỏ chiếc lưới kiểm định giăng đều, bởi nó vừa tốn sức vừa có thể lọt khoảng trống lớn. Thứ thay thế phải là hệ thống radar chính xác hơn: dữ liệu sống, tiêu chí rủi ro công khai, đánh giá độc lập và chế tài đủ mạnh. Khi ấy, kiểm định mới không còn là mùa trình diễn hồ sơ, mà trở về đúng nghĩa: bảo vệ người học và thúc đẩy đại học tự cải thiện mỗi ngày.
Link nội dung: https://www.phunuvathoidaivn.com/dung-de-kiem-dinh-dai-hoc-la-chien-dich-lam-ho-so-theo-mua-a205695.html