Hội Tim mạch học Việt Nam ra "Đồng thuận về béo phì và bệnh tim mạch"

Tại Đại hội Tim mạch toàn quốc lần thứ 20 do Hội Tim mạch Việt Nam vừa tổ chức, GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, cho biết, Hội vừa xây dựng "Đồng thuận năm 2026 về béo phì và bệnh tim mạch".

Đồng thuận của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2026 về béo phì và bệnh tim mạch là một tài liệu chuyên môn được Hội Tim mạch học Việt Nam xây dựng dựa trên sự thống nhất của các chuyên gia đầu ngành tim mạch và các lĩnh vực liên quan về mối quan hệ giữa béo phì và sức khỏe tim mạch, đồng thời đưa ra các khuyến nghị dựa trên bằng chứng khoa học nhằm thúc đẩy cách tiếp cận toàn diện trong dự phòng và quản lý hiệu quả bệnh lý tim mạch liên quan đến béo phì. Tài liệu được chủ biên bởi GS.TS Phạm Mạnh Hùng, GS.TS Huỳnh Văn Minh và các thành viên Hội đồng.

Hội Tim mạch học Việt Nam ra

GS.TS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, phát biểu tại Đại hội Tim mạch toàn quốc lần thứ 20.

Tuyên bố đồng thuận này thảo luận về mối tương tác phức tạp giữa béo phì, các yếu tố nguy cơ tim mạch và biểu hiện của các bệnh lý tim mạch ở người béo phì, đồng thời tổng hợp các bằng chứng về tác động của các biện pháp giảm cân đối với kết cục tim mạch.

Béo phì là một bệnh mạn tính, đa hệ thống và có xu hướng tái phát. Trong tim mạch y học hiện đại, đánh giá và điều trị béo phì không nên giới hạn ở BMI hay mục tiêu giảm cân đơn thuần mà cần hướng đến giảm dư thừa mô mỡ, cải thiện chức năng cơ quan, kiểm soát các bệnh đồng mắc và giảm nguy cơ biến cố tim mạch. Những bằng chứng mới về liệu pháp incretin (GLP-1 RA, GIP/GLP-1 RA) và phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân đang đưa quản lý béo phì trở thành một thành phần ngày càng quan trọng của dự phòng và điều trị bệnh tim.

Béo phì và tim mạch là mối liên hệ hai chiều, đa cơ chế: Mô mỡ dư thừa không chỉ là nơi tích trữ năng lượng, mà còn là cơ quan nội tiết hoạt động, góp phần khởi phát và thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch và các bệnh tim mạch.

Đồng thuận tiếp cận thừa cân, béo phì theo mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe, thay vì chỉ dựa vào một con số trên cân. Thừa cân, béo phì cần được nhìn nhận là một điểm đích điều trị quan trọng trong dự phòng tim mạch, thay vì chỉ là yếu tố nguy cơ đi kèm.

Thừa cân, béo phì không chỉ thúc đẩy các yếu tố nguy cơ tim mạch như đái tháo đường tuýp 2, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hội chứng ngưng thở khi ngủ, bệnh thận mạn và bệnh gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa, mà cón trực tiếp góp phần gây ra bệnh tim mạch (suy tim, rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch, bệnh tim mạch do xơ vữa, và bệnh van tim).

Đáng chú ý, quản lý thừa cân, béo phì có thể mang lại lợi ích vượt ngoài giảm cân, như cải thiện triệu chứng, khả năng vận động và chất lượng sống ở người suy tim, giảm gánh nặng rung nhĩ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch – chuyển hóa và, với một số liệu pháp đã có bằng chứng, giảm biến cố tim mạch.

BMI hữu ích để sàng lọc nhưng cần kết hợp chỉ số vòng eo, phân bố mỡ, thành phần cơ thể, bệnh đồng mắc và tổn thương cơ quan giúp chẩn đoán đầy đủ hơn về tình trạng sức khỏe liên quan thừa cân, béo phì. Cách tiếp cận này giúp tránh bỏ sót người có mỡ nội tạng cao dù BMI chưa quá cao, đồng thời hỗ trợ cá thể hóa mục tiêu điều trị.

GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam - chia sẻ: "Có rất nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống và nguy cơ tim mạch mới nổi. Nguy cơ tim mạch truyền thống là tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, các yếu tố liên quan đến lối sống và vận động. Trong đó, có một yếu tố nguy cơ hết sức quan trọng, đó chính là béo phì mà ít khi chúng ta để ý tới."

"Thêm vào đó là những yếu tố nguy cơ được gọi là mới nổi, như yếu tố nguy cơ về mặt stress, về mặt môi trường, ô nhiễm không khí - những yếu tố mà người ta ngày càng đề cập tới; ngoài ra còn có những yếu tố về viêm,... Trí tuệ nhân tạo cũng như các ứng dụng giúp cho chúng ta tiếp cận được thông tin tốt hơn, giúp chúng ta có thêm các biện pháp chẩn đoán, xác định yếu tố nguy cơ. Nhất là trong lĩnh vực tim mạch, những công nghệ này giúp cho người thầy thuốc có thêm những quyết định chính xác hơn, cá thể hóa hơn cho người bệnh."

Các chuyên gia nhấn mạnh điều trị béo phì cần được thực hiện lâu dài, đa mô thức và cá thể hóa. Thay đổi lối sống vẫn là nền tảng; thuốc điều trị béo phì có thể được sử dụng theo chỉ định, đặc biệt ở những người cần giảm cân nhiều hoặc có bệnh tim mạch đi kèm. Phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân có thể được cân nhắc ở người béo phì mức độ nặng hoặc có bệnh đồng mắc phù hợp. Việc sử dụng thuốc phải có chỉ định và được bác sĩ theo dõi, không tự điều trị.

Đồng thuận cũng lưu ý, béo phì và suy tim có mối liên hệ chặt chẽ. Béo phì làm tăng nguy cơ suy tim; ở người đã mắc suy tim, tình trạng này liên quan đến khả năng gắng sức thấp hơn, triệu chứng nặng hơn, chất lượng cuộc sống kém hơn và nguy cơ nhập viện cao hơn.

Theo Liên đoàn Béo phì thế giới, gần 48% người trưởng thành trên toàn cầu đang sống với tình trạng thừa cân hoặc béo phì vào năm 2022. Dự báo đến năm 2030, con số này có thể lên khoảng 50%.

Tại Việt Nam, tỷ lệ thừa cân, béo phì đang gia tăng nhanh. Năm 2021, tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành từ 18-69 tuổi được ghi nhận ở mức 19,5%. Đến năm 2030, ước tính Việt Nam có khoảng 18,92 triệu người trưởng thành bị thừa cân, béo phì. Tình trạng này cũng gia tăng nhanh ở trẻ em và thanh thiếu niên. Giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nhóm 5-19 tuổi tăng trung bình 7,9% mỗi năm. Riêng năm 2025, tỷ lệ thừa cân là 20,68% và béo phì 11,36%, tương đương khoảng 4,8 triệu trẻ em và thanh thiếu niên sống chung với tình trạng này.

Minh Anh

Link nội dung: https://www.phunuvathoidaivn.com/hoi-tim-mach-hoc-viet-nam-ra-dong-thuan-ve-beo-phi-va-benh-tim-mach-a211106.html