Xử lý triệt để tài khoản ảo, lừa đảo trực tuyến, ngăn chặn giả mạo sinh trắc học tinh vi

Thực tiễn quản lý hiện nay đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng cao hoạt động định danh từ định danh cá nhân sang “định danh vạn vật", bao gồm phương tiện, địa điểm, hàng hóa, bất động sản, hạ tầng kết nối vạn vật và tài sản số.

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Sáng nay (26/10), tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã trình bày Dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.

Dự thảo Luật quy định về định danh và xác thực điện tử, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Đối tượng áp dụng là cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động định danh và xác thực điện tử của Việt Nam.

Hoàn thiện hạ tầng pháp lý số và góp phần giải quyết các thách thức an ninh mạng

Việc xây dựng Luật dựa trên các chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ về hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và bảo vệ quyền con người trên môi trường số. Đồng thời, việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động định danh, xác thực điện tử theo quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan cũng nhằm thắt chặt an ninh mạng và nâng cao hiệu quả quản lý, ứng phó trong tình huống khẩn cấp.

Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, thực tiễn quản lý hiện nay đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng cao hoạt động định danh từ định danh cá nhân sang "định danh vạn vật", bao gồm phương tiện, địa điểm, hàng hóa, bất động sản, hạ tầng kết nối vạn vật và tài sản số. Việc ban hành Luật hình thành khung định danh và xác thực điện tử an toàn, tin cậy, đây cũng là công cụ pháp lý quan trọng giúp phòng ngừa tội phạm mạng, xử lý triệt để SIM nặc danh, tài khoản ảo, tình trạng lừa đảo trực tuyến và ngăn chặn các hình thức giả mạo sinh trắc học tinh vi từ công nghệ trí tuệ nhân tạo.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Luật Định danh và xác thực điện tử sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận danh tính điện tử xuyên biên giới và định danh sản phẩm. Việc chuẩn hóa dữ liệu theo chuẩn mực chung giúp doanh nghiệp Việt Nam chủ động đáp ứng các quy định khắt khe của thị trường thế giới (như yêu cầu về Hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số của Liên minh châu Âu), từ đó bảo vệ nguồn gốc hàng hóa nội địa, tháo gỡ điểm nghẽn thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì vậy, việc ban hành Luật là cần thiết, giúp hoàn thiện hạ tầng pháp lý số và góp phần giải quyết các thách thức an ninh mạng, đồng thời tạo động lực đột phá để thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, giúp Việt Nam chủ động hội nhập và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang trình bày Dự án Luật Định danh và xác thực điện tử - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc.

Theo Bộ trưởng Bộ Công an, việc ban hành Luật nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất và có hiệu lực pháp lý cao về định danh và xác thực điện tử, làm cơ sở cho việc tạo lập, quản lý, sử dụng danh tính điện tử trong các hoạt động quản lý nhà nước, giao dịch điện tử và phát triển kinh tế số, xã hội số. Dự thảo Luật được xây dựng trên quan điểm bảo đảm thực hiện đúng các chủ trương của Đảng, Nhà nước, tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; tập trung rà soát các quy định là nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập lớn, là điểm nghẽn cần phải tháo gỡ trong thực tiễn triển khai định danh và xác thực điện tử. Quán triệt tinh thần kiến tạo phát triển theo Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW, Luật hướng tới cắt giảm chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, tạo không gian linh hoạt cho đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số, xã hội số.

Bố cục của dự thảo Luật gồm 8 chương với 46 điều: Chương 1 (Quy định chung) bao gồm 6 điều; Chương II (Định danh và danh tính điện từ) gồm 14 điều; Chương III (Xác thực điện tử) gồm 11 điều; Chương IV (Hệ thống định danh và xác thực điện tử) gồm 4 điều; Chương V (Dịch vụ định danh và xác thực điện tử) gồm 2 điều; Chương VI (Liên thông và hợp tác quốc tế) gồm 2 điều; Chương VII (Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm) gồm 4 điều; Chương VIII (Điều khoản thi hành) gồm 3 điều.

Nội dung dự án Luật tập trung trong 6 nhóm nội dung cơ bản: Thứ nhất, về đối tượng định danh điện tử, dự thảo Luật xác định 5 nhóm đối tượng gồm: Cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất và đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm và các dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian; giao Chính phủ quy định việc định danh, xác thực điện tử đối với đối tượng thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu. Quy định nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, không thu thập lại dữ liệu đã có; nghiêm cấm sử dụng sinh trắc giả, hình ảnh giả tạo bằng công nghệ hoặc gian lận công nghệ khác để tạo lập, giả mạo danh tính điện tử; quy định chế độ ghi nhận, lưu vết, truy vết và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình định danh, xác thực điện tử.

Thứ hai về mô hình định danh điện tử thực hiện theo 2 phương thức: Nhà nước đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng để trực tiếp thực hiện hoạt động định danh điện tử; địa điểm, không gian; đối tượng thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận sở hữu, sử dụng; sản phẩm, hàng hóa rủi ro cao và đối tượng bí mật nhà nước; Tổ chức đủ điều kiện tự đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng và cơ sở hạ tầng để thực hiện hoạt động định danh điện tử. Đối với các đối tượng còn lại, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ định danh thương mại.

Thứ ba, quy định Hệ thống định danh và xác thực điện tử gồm: Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Nền tảng định danh và xác thực điển tử; Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID); Hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử và chứng thư điện tử xác nhận thông tin; Cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia và các phần mềm, ứng dụng, hệ thống thông tin khác. Các hệ thống thông tin có liên quan được kết nối với Hệ thống để phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, quy định mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh theo quy định của Luật là đối tượng xác thực điện tử; đồng thời thiết lập 3 mô hình thực hiện hoạt động xác thực điện tử, gồm: Mô hình xác thực tập trung, mô hình xác thực trung gian và mô hình xác thực độc lập. Quy định bắt buộc liên kết, xác thực danh tính điện tử đối với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực.

Thứ năm, về dịch vụ định danh, xác thực điện tử. Dự thảo quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an ninh mạng, kết nối kỹ thuật với Hệ thống và bảo hiểm trách nhiệm.

Thứ sáu, quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài để sử dụng trong giao dịch xuyên biên giới; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Đề nghị chỉ bắt buộc liên kết danh tính đối với các giao dịch mà pháp luật chuyên ngành có quy định bắt buộc

Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật của Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới tư duy lập pháp; luật hóa các quy định đang tồn tại phân tán tại các văn bản dưới luật; bảo đảm tính đồng bộ với các luật chuyên ngành; khắc phục các vướng mắc qua thực tiễn thi hành các quy định hiện hành; đáp ứng nhu cầu thực tiễn, tạo nền tảng nhận diện số tin cậy, phòng, chống tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến và thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Nội dung dự thảo Luật phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), cơ bản bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan và bảo đảm tính khả thi. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát kỹ quy định về thu thập, lưu trữ, xác thực dữ liệu sinh trắc học để bảo đảm không xâm phạm quyền riêng tư; rà soát với các Hiệp định thương mại tự do về dòng chảy dữ liệu tự do và công nhận danh tính điện tử nước ngoài; đánh giá kỹ tính khả thi về hạ tầng công nghệ, tài chính và nguồn nhân lực khi áp dụng định danh đối với các thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất.

Hồ sơ dự án Luật được Chính phủ chuẩn bị đầy đủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đủ điều kiện trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2. Bố cục của dự thảo Luật gồm 8 chương, 46 điều là phù hợp.

Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đã có ý kiến cụ thể về một số nội dung. Trước hết, về đối tượng định danh điện tử (Điều 7), Ủy ban cơ bản nhất trí với đối tượng định danh điện tử tại Điều 7 và thấy rằng quy định mở rộng đối tượng định danh điện tử sang thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất là phù hợp xu thế. Tuy nhiên, Ủy ban cho biết, có ý kiến cho rằng, phạm vi đối tượng định danh điện tử tại Điều 7 quá rộng, nên đề nghị thu hẹp hoặc phân định rõ danh mục bắt buộc và danh mục khuyến khích thực hiện; cân nhắc tính khả thi khi định danh các đối tượng phi vật chất như tệp dữ liệu, ứng dụng, sự kiện, hành vi; đánh giá kỹ nguy cơ lộ lọt thông tin đối với đối tượng định danh chứa đựng bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh.

Về danh tính điện tử, mã định danh (từ Điều 11 đến Điều 19), Ủy ban cơ bản nhất trí với quy định về danh tính điện tử, mã định danh từ Điều 11 đến Điều 19 dự thảo Luật. Tuy nhiên, Ủy ban cũng cho biết có ý kiến cho rằng việc giao cơ quan chuyên ngành hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ tự quyết định các trường thông tin thu thập dễ dẫn đến lạm dụng, xâm phạm quyền riêng tư. Đề nghị bổ sung quy định khung về các trường thông tin được phép thu thập; giao Chính phủ quy định giới hạn các trường thông tin, ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật và quán triệt nguyên tắc thu thập tối thiểu để bảo vệ quyền của chủ thể dữ liệu.

Về liên kết danh tính điện tử (Điều 20), Ủy ban cho biết có ý kiến đề nghị chỉ bắt buộc liên kết danh tính đối với các giao dịch mà pháp luật chuyên ngành có quy định bắt buộc; quy định việc liên kết danh tính điện tử bảo đảm nguyên tắc cần thiết, tương xứng với mục đích quản lý, sử dụng và mức độ rủi ro của giao dịch, tập trung vào các chủ thể có quyền quản lý, quyền kiểm soát hoặc trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch hành vi; đồng thời, quy định rõ phạm vi, điều kiện và mức độ liên kết danh tính; bổ sung nguyên tắc liên kết theo quan hệ gia đình, huyết thống hoặc người quản lý doanh nghiệp.

Về tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử (Điều 36, Điều 41), Ủy ban nhất trí với chính sách xã hội hóa, cho phép các tổ chức đủ điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cơ quan nhà nước phải ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu và chuẩn dữ liệu dùng chung để tránh đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu đồng bộ; đồng thời bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý và cơ chế bồi thường thiệt hại của tổ chức cung cấp dịch vụ khi để xảy ra sự cố lộ lọt dữ liệu hoặc định danh, xác thực sai lệch.

Link nội dung: https://www.phunuvathoidaivn.com/xu-ly-triet-de-tai-khoan-ao-lua-dao-truc-tuyen-ngan-chan-gia-mao-sinh-trac-hoc-tinh-vi-a215714.html