Công văn của Bộ Xây dựng tổng hợp ý kiến của các Bộ, ngành như Quốc phòng, Công an, Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường... cùng một số hãng hàng không trong nước.
Ảnh minh hoạ.
Theo Bộ Xây dựng, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021 - 2030 (được phê duyệt năm 2023) chưa xác định vị trí sân bay Ninh Bình. Toàn bộ nhu cầu vận chuyển hàng không của khu vực này thực tế đã được phân bổ cho các cảng hàng không hiện hữu xung quanh như Nội Bài, Gia Bình, Cát Bi và Thọ Xuân.
Vì vậy, Bộ Xây đề nghị tỉnh Ninh Bình cần đặc biệt bổ sung đánh giá về sự phân bổ nhu cầu vận tải khi đặt trong thế đối sánh với các loại hình giao thông khác. Trọng tâm là phải làm rõ tác động của tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và mạng lưới đường bộ cao tốc đang ngày càng hoàn thiện đối với sản lượng khách của sân bay Ninh Bình.
Vấn đề quy hoạch vị trí và tĩnh không cũng nhận được nhiều cảnh báo từ các cơ quan chuyên môn. Đề án hiện đưa ra 3 phương án vị trí, tuy nhiên các tọa độ này đều nằm rất gần hệ thống sân bay dân dụng (Nội Bài, Cát Bi, Gia Bình, dự kiến sân bay thứ hai Vùng Thủ đô) và cả sân bay quân sự (Kiến An, Gia Lâm).
Điều này dẫn tới nguy cơ gia tăng xung đột không lưu rất lớn, đặc biệt là vào các thời điểm thời tiết xấu hoặc có mật độ bay cao. Do đó, việc tổ chức vùng trời cần được đánh giá trên bình diện tổng thể toàn miền Bắc để đảm bảo tính khả thi, làm cơ sở khoa học xây dựng phương thức bay.
Còn Bộ Tài chính yêu cầu đơn vị lập đề án phân tích rõ sân bay Ninh Bình sẽ mang vai trò chia sẻ gánh nặng cho hệ thống hiện tại hay tạo ra dư địa phát triển mới.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng lưu ý, nếu phát triển theo mô hình sân bay thương mại đại trà trong bối cảnh Đồng bằng sông Hồng đã có mật độ sân bay dày đặc, dự án có thể đối mặt với nguy cơ phân tán nguồn khách, khó duy trì các đường bay ổn định và rủi ro lãng phí nguồn lực đầu tư.
Bên cạnh đó, phương án tài chính đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) đang phụ thuộc quá nhiều vào giả định tăng trưởng khách ở mức cao và các chính sách ưu đãi từ Nhà nước, do vậy cần rà soát lại để bảo đảm tính khả thi thực tế.