Bộ Chính trị: Đến năm 2030, làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm

Admin

Mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin; tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.

Mục tiêu trên được đặt ra tại Kết luận số 83 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam, do Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Bộ Chính trị quán triệt, thống nhất nhận thức phát triển công nghiệp vật liệu là nhiệm vụ chiến lược của quốc gia, góp phần quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường.

Bộ Chính trị yêu cầu phát triển công nghiệp vật liệu có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, manh mún; tập trung nguồn lực vào những khâu, lĩnh vực then chốt, nền tảng, có khả năng lan toả, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực khác.

Một trong những định hướng quan trọng được Bộ Chính trị đặt ra là chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu; từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ tham gia chuỗi cung ứng sang từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu; lấy hiệu quả chiến lược lâu dài, sức mạnh nội sinh và năng lực cạnh tranh tổng hợp làm thước đo chủ yếu.

“ Quản lý thống nhất, chặt chẽ khoáng sản chiến lược theo chuỗi giá trị từ thăm dò, điều tra cơ bản, quy hoạch, khai thác, tinh chế, sản xuất vật liệu ứng dụng đến tái chế và dự trữ chiến lược; hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô; bảo đảm khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên quốc gia “, Kết luận nêu rõ.

Trong năm 2026, Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cùng với đó, các cơ quan cần nghiên cứu hình thành cơ chế điều phối quốc gia thống nhất về phát triển công nghiệp vật liệu.

Các quy hoạch liên quan đến công nghiệp vật liệu phải được hoàn thiện, bảo đảm đồng bộ với Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành, vùng, tỉnh; kết hợp phát triển công nghiệp vật liệu với kết cấu hạ tầng chiến lược, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, các vùng động lực và hành lang kinh tế.

Đáng chú ý, Bộ Chính trị định hướng hình thành các chuỗi công nghiệp vật liệu khép kín từ khai thác, chế biến, chế biến sâu đến sản phẩm ứng dụng cuối cùng đối với đất hiếm; vật liệu pin, nam châm, vật liệu từ; vật liệu điện tử, bán dẫn; nhôm, thép, titan, kim loại màu, hợp kim đặc chủng; vật liệu hoá chất, phân bón, carbon, vật liệu lưỡng dụng...

Bộ Chính trị lưu ý đánh giá đầy đủ, khách quan hiện trạng tài nguyên, trữ lượng, điều kiện khai thác, kể cả các khu vực biển sâu, biển xa, công nghệ chế biến, nhu cầu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, hiện đại, làm căn cứ xác định mục tiêu, lộ trình, mô hình phát triển, phân công, phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá cụ thể.

“ Trong năm 2027, hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu; hoàn thiện, liên thông dữ liệu về địa chất, khoáng sản. Đến năm 2028, phấn đấu hình thành tối thiểu 3-5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia. Đến năm 2030, làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn , vật liệu pin; phấn đấu tỷ lệ nội địa hoá một số vật liệu chiến lược đạt 50% “, theo mục tiêu Bộ Chính trị đặt ra.

Bộ Chính trị định hướng phát triển đồng bộ công nghiệp vật liệu theo 3 nhóm gồm: vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai.

Với vật liệu cơ bản , Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu là giữ vững năng lực sản xuất, ổn định cung ứng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Các ngành luyện kim, hóa chất, polymer, cao su kỹ thuật, vật liệu xây dựng được yêu cầu tiếp tục sắp xếp, cơ cấu lại theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, thân thiện môi trường, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Bộ Chính trị quán triệt hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô; hình thành các tổ hợp, trung tâm công nghiệp vật liệu quy mô lớn, gắn với vùng nguyên liệu, cảng biển, hệ thống logistics hiện đại và các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn.

Các bộ ngành, địa phương cần chủ động điều tiết quy mô, cơ cấu các ngành xi măng, kính xây dựng, gạch, gốm, vật liệu hoàn thiện phù hợp với nhu cầu thị trường; khắc phục tình trạng dư thừa công suất, cạnh tranh không lành mạnh; thúc đẩy mạnh mẽ sử dụng vật liệu không nung, vật liệu tái chế, vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu thay thế cát tự nhiên...

Với vật liệu chiến lược , Bộ Chính trị yêu cầu huy động hiệu quả nguồn lực Nhà nước, đồng thời thu hút mạnh nguồn lực tư nhân và đầu tư nước ngoài để từng bước tiếp cận, làm chủ công nghệ, chuỗi cung ứng.

Các vật liệu chiến lược được xác định gồm: vật liệu bán dẫn, vật liệu điện tử, đất hiếm, vật liệu pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu từ tính, hợp kim đặc chủng, vật liệu phục vụ quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo, hàng không vũ trụ và các ngành công nghiệp công nghệ cao khác.

Bộ Chính trị chỉ đạo ban hành và tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về đất hiếm giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo hướng phát triển đồng bộ, bền vững, tuần hoàn, an toàn; lấy chế biến sâu làm trọng tâm, không xuất khẩu thô.

Với vật liệu tương lai , Bộ Chính trị yêu cầu chủ động nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm, từ xa, gắn với xu thế công nghệ mới trên thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Theo định hướng của Bộ Chính trị, từng bước hình thành chuỗi giá trị, chuyển từ quy mô nghiên cứu sang thương mại hoá đối với các nhóm vật liệu như: vật liệu nano thế hệ mới, vật liệu hai chiều thế hệ mới, vật liệu lượng tử, vật liệu sinh học, vật liệu thông minh, vật liệu tự phục hồi, vật liệu siêu dẫn, composite thế hệ mới, các vật liệu hấp thụ, lưu trữ, chuyển hoá năng lượng thế hệ mới và các vật liệu tiên tiến khác.

Đi kèm đó là quản lý, kiểm soát đặc biệt việc khai thác, chế biến một số vật liệu đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh, an ninh tiền tệ như khoáng sản phóng xạ, vàng...

“ Giai đoạn đến năm 2030, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, ưu tiên nguồn lực phát triển một số nhóm vật liệu chiến lược, trọng điểm, trước hết là: Vật liệu bán dẫn; vật liệu đất hiếm; vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng; vật liệu mới; vật liệu đặc chủng, lưỡng dụng phục vụ công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số “, Bộ Chính trị nêu rõ.

Bộ Chính trị yêu cầu xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển công nghiệp vật liệu.

Theo đó, các viện nghiên cứu, trường đại học là nền tảng cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, là trung tâm, chủ thể chính trong thương mại hoá công nghệ, tổ chức sản xuất, tham gia chuỗi cung ứng; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là kênh quan trọng kết nối, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong ngành công nghiệp vật liệu được Bộ Chính trị định hướng theo mô hình “Nhà nước kiến tạo - doanh nghiệp trung tâm - viện, trường nền tảng - địa phương là không gian thực thi”. Trong đó, Nhà nước sẽ đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ trọng điểm về phát triển công nghiệp vật liệu chiến lược, vật liệu mới.

Bộ Chính trị cũng yêu cầu xây dựng mạng lưới trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ; phát huy vai trò quỹ đầu tư mạo hiểm trong phát triển vật liệu mới, vật liệu bán dẫn, đất hiếm, vật liệu pin và năng lượng mới, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai; nâng cao năng lực thiết kế, mô phỏng, thử nghiệm, chế tạo, làm chủ công nghệ vật liệu tiên tiến.

Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán hiệu năng cao và các công nghệ số mới sẽ được ứng dụng mạnh trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, quản trị và thương mại hóa sản phẩm vật liệu. Đồng thời, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, thiết lập bản đồ số tài nguyên khoáng sản, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược.

Bộ Chính trị chỉ đạo khẩn trương xây dựng và triển khai cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế và các tập đoàn công nghệ toàn cầu, thiết lập các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo đột phá nhanh trong phân khúc vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai, tận dụng tối đa dòng vốn và dịch chuyển công nghệ toàn cầu...