Bối cảnh mới, trách nhiệm của nhân viên y tế ngày càng tăng
Tại Lễ kỷ niệm 50 năm kiến tạo và phát triển Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên đã vạch ra những thách thức mới của công tác y tế dự phòng. Theo ông, trong thời gian qua, các thế hệ cán bộ dịch tễ, xét nghiệm đã âm thầm bám cơ sở, đến vùng sâu, vùng xa để bảo vệ sức khỏe nhân dân, đưa nhiều địa phương tiến gần mục tiêu loại trừ bệnh sốt rét.
Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ Y tế nhấn mạnh: "Khi số ca bệnh giảm xuống không có nghĩa là nhiệm vụ của chúng ta giảm đi, mà ngược lại nhiệm vụ phải tăng lên". Ông cho rằng, thành quả càng lớn thì trách nhiệm duy trì càng tăng.
Trong khi đó, Việt Nam đang tiến tới mục tiêu thanh toán bệnh sốt rét vào năm 2030, do đó, hệ thống y tế dự phòng hiện đại phải có khả năng giám sát, dự báo và hành động sớm để ngăn chặn nguy cơ bùng phát dịch trở lại.
Theo Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, ngành y tế đang thay đổi nhanh chóng. Một trong những nguyên nhân do sự thay đổi khí hậu đang làm biến đổi sự phân bố của các vector truyền bệnh. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa, giao lưu quốc tế và biến động dân cư làm tăng nguy cơ xuất hiện, lan truyền các bệnh lây từ động vật sang người cùng nhiều tác nhân gây bệnh mới.
Để đối phó với bối cảnh mới, y tế dự phòng hiện đại phải có khả năng giám sát, dự báo và hành động sớm trước khi nguy cơ bùng phát thành dịch.
Máy móc có thể đầu tư, nhưng một chuyên gia giỏi cần nhiều năm đào tạo
Với Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên nêu rõ 3 nhiệm vụ cốt lõi.
Thứ nhất là tiếp tục củng cố năng lực chuyên môn cốt lõi. Viện tiếp tục phát huy thế mạnh về dịch tễ học sốt rét, ký sinh trùng, côn trùng, giám sát vector (vật trung gian truyền bệnh), giám sát kháng thuốc, xét nghiệm và nghiên cứu khoa học. Đồng thời phải thể hiện khả năng phát hiện những vấn đề mới, giải quyết các bài toán chuyên môn khó, hỗ trợ kỹ thuật cho các địa phương và cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ xây dựng chính sách.
Bên cạnh đó, phối hợp chặt chẽ với các địa phương thực hiện mục tiêu loại trừ bệnh sốt rét vào năm 2030 (cùng các chương trình mục tiêu như chấm dứt HIV/AIDS, loại trừ bệnh lao...), đồng thời chuẩn bị các giải pháp duy trì bền vững thành quả sau năm 2030.
Thứ hai là đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo Thứ trưởng Bộ Y tế, nghiên cứu khoa học phải gắn chặt với thực tiễn. Giá trị của một công trình nghiên cứu không chỉ nằm ở việc được công bố, mà quan trọng hơn là kết quả nghiên cứu phải được áp dụng vào thực tiễn và giải quyết được các vấn đề sức khỏe cộng đồng.
Thứ ba là đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn đầu ngành. Nhấn mạnh vai trò then chốt của nguồn nhân lực, Thứ trưởng chia sẻ: "Máy móc có thể đầu tư được, công nghệ có thể chuyển giao được, nhưng một chuyên gia giỏi cần nhiều năm đào tạo và trưởng thành". Do đó, việc truyền nghề, tính kế thừa và đào tạo cán bộ trẻ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng để Viện tiếp tục là địa chỉ tin cậy của nhân dân và các địa phương.
Cũng tại buổi lễ, TS Giang Hán Minh, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM cho biết, theo tinh thần Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị về đột phá trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, Viện đặt mục tiêu đến năm 2045 trở thành đơn vị chuyên sâu hàng đầu trong nước và khu vực về sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng.
Viện hướng tới trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu của Bộ Y tế và khu vực; xây dựng hệ thống phòng xét nghiệm hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế; phát triển cơ sở khám, chữa bệnh chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Bên cạnh đó, Viện sẽ nâng cao năng lực chỉ đạo tuyến, sẵn sàng ứng phó với các tình huống dịch bệnh, tình trạng y tế khẩn cấp; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chuyển đổi số và đổi mới trong quản trị.
Theo thông tin từ Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM, Việt Nam là một trong những quốc gia có chương trình phòng chống sốt rét thành công, đạt được nhiều thành tựu to lớn từ năm 1991 khi chuyển từ chương trình tiêu diệt sốt rét sang phòng chống sốt rét.
Cụ thể, bệnh đã giảm mạnh, thậm chí nhiều tỉnh, thành phố trong một vài năm gần đây đã không ghi nhận trường hợp mắc sốt rét tại địa phương. Tỷ lệ mắc mới giảm liên tục từ 2,8 ca/1.000 dân (1991) xuống 0,87 ca/1.000 dân (2001), 0,08 ca/1.000 dân (2017), 0,074 ca/1.000 dân (2018) và chỉ còn 0,0006 ca/1.000 dân (2025).
Bệnh nhân tử vong do sốt rét giảm mạnh từ 4.646 ca vào năm 1991 xuống 1 ca vào năm 2015. Số vụ dịch sốt rét giảm từ 144 vụ vào năm 1991, đến nay không còn dịch sốt rét xảy ra
Phạm vi lưu hành bệnh sốt rét đã thu hẹp, tập trung chủ yếu tại các tỉnh khu vực miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh Đông Nam Bộ, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa.